Banner

NGƯỜI LÁI ĐÒ

Lá thu rơi lặng lẽ trong ánh nắng yếu ớt của buổi chiều tà, tôi tự hỏi không biết đã có bao nhiêu chiết lá vàng đã rơi như thế trong suốt thời gian mà tôi biết đến ngôi trường này, học ở đây và được thầy dạy dỗ...

MƯA NẮNG SÂN TRƯỜNG

Tôi về giữa nắng sân trường
Giữa bao kỉ niệm yêu thương ngày nào...

NHỚ THẦY

Mùa thu lá rụng rơi mỏi mắt
Chợt nhắc lòng tôi nhớ đến thầy

NHỚ LẠI

Mái trường tôn ngày nào đã xây mới
Dãy tiền chế đã thay bằng lớp học

THẦY TÔI

Một người thầy luôn luôn bề công việc
Lo gia đình lo sự nghiệp mai sau

Kích thước chữ: +ALớn hơn -ANhỏ hơn

Hiển thị các bài đăng có nhãn Gương nhà giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Gương nhà giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012

Nhà giáo Vũ Hữu Bình - Một tấm gương sáng của trường THCS Trưng Vương

Từ năm 1961, khi mới bắt đầu vào tuổi mười tám, đôi mươi, nhà giáo Vũ Hữu Bình đã đứng trên bục giảng trường cấp hai. Cho đến hôm nay, đã hơn 40 năm trôi qua, ông vẫn miệt mài đứng trên bục giảng ấy. Bao lớp học trò kế tiếp nhau, đã ngồi nghe ông giảng, nhận từ ông không chỉ kiến thức Toán học, mà cả những bài học về đạo đức, về lối sống, cách hành xử khiêm nhường, rồi lớn lên, thành công trong học vấn, đi ra đóng góp với xã hội, Người thầy mái tóc mướt xanh ngày nào, giờ đã pha sương mà vẫn bền bỉ một tâm huyết có từ thời trai trẻ.


NHÀ GIÁO VŨ HỮU BÌNH – BỀN BỈ MỘT TÂM HUYẾT LÀM THẦY

Từ năm 1961, khi mới bắt đầu vào tuổi mười tám, đôi mươi, nhà giáo Vũ Hữu Bình đã đứng trên bục giảng trường cấp hai. Cho đến hôm nay, đã hơn 40 năm trôi qua, ông vẫn miệt mài đứng trên bục giảng ấy. Bao lớp học trò kế tiếp nhau, đã ngồi nghe ông giảng, nhận từ ông không chỉ kiến thức Toán học, mà cả những bài học về đạo đức, về lối sống, cách hành xử khiêm nhường, rồi lớn lên, thành công trong học vấn, đi ra đóng góp với xã hội, Người thầy mái tóc mướt xanh ngày nào, giờ đã pha sương mà vẫn bền bỉ một tâm huyết có từ thời trai trẻ.
Những học trò đã học thầy Bình, mấy chục năm đã trôi qua rồi, khi nhắc đến ông, chỉ nói với nhau một từ “Thầy”: “Thầy đã nói…”, “Thầy dạo này…” thế là cùng hiểu mình đang nhắc về thầy Vũ Hữu Bình hết mực yêu kính ngày nào. Vũ Hữu Bình chỉ dạy Toán ở cấp hai, ở trường trung học cơ sở thôi, hơn chục năm đầu là mấy trường trường bên huyện Gia Lâm, từ năm 1973 đến năm 2005 thì dạy ở trường THCS Trưng Vương (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội), mà sao tên ông lại được nhiều người trong nước, rồi cả ngoài nước biết đến nhiều thế? Là bởi vì ông dạy giỏi, sáng tạo, là bởi vì ông nhiều tâm huyết, hết lòng yêu thương học trò, vì thế mà ông truyền được cho học trò say mê học tập, kiến thức và nhân cách. Học trò thầy Vũ Hữu Bình học giỏi, rất nhiều em học lên nữa, đi thi thành thủ khoa các trường đại học, đoạt nhiều giải thưởng cao quý ở các cuộc thi tài quốc tế cũng như trong nước, rồi sau đó tiếp tục thành công trên những bước đường học tập và công tác. Aui cũng tự hào, sung sướng nhận mình là học trò cũ của thầy Bình, rồi kể về người thầy học cũ với những dòng hồi ức trong lành, rưng rưng và lan toả…
Mà không chỉ những học trò trực tiếp được học ông. Có thể gọi Vũ Hữu Bình là một trong những nhà giáo có nhiều học trò nhất hiện nay. Vì ngoài tâm sức dành cho những học trò ở lớp mình dạy, ông còn dành phần thời gian và tâm sức rất lớn soạn những cuốn sách giáo khoa, sách tham khảo, chủ yếu do Nhà xuất bản giáo dục phát hành, dành cho những lứa học sinh như học trò trực tiếp của ông, dành cho những đồng nghiệp của ông để họ có thêm kinh nghiệm dạy học trò của mình. Có biết bao nhiêu học sinh chưa hề gặp thầy Vũ Hữu Bình, chỉ đọc sách của thầy, viết thư cho thầy xin được nhận là học trò, mãi mãi biết ơn thầy vì những bài học nhận được từ những trang sách của thầy. Và thầy Vũ Hữu Bình cũng không quản ngại, nếu điều kiện cho phép, sẵn sàng trả lời tỉ mỉ, chu đáo qua thư cho những học sinh không quen biết viết gửi tới ông hỏi về một bài toán bất kỳ nào đó. Nếu đó là một thắc mắc có thể nhiều học sinh băn khoăn thì thầy Bình sẽ thực hiện “bài giảng” thông qua một tờ báo, như tờ “Toán học và tuổi trẻ” chẳng hạn. Nhà giáo Vũ Hữu Bình đã được một tờ báo chuyên ngành giáo dục phong kỷ lục “Thầy giáo của nhiều thủ khoa nhất”. Đến nay, Vũ Hữu Bình đã cho xuất bản tới 88 cuốn sách giáo khoa và sách tham khảo với tư cách là tác giả, đồng tác giả hoặc chủ biên. Trong số đó, có những đầu sách như bộ “Một số vấn đề phát triển Toán THCS” đã được in tới 70 vạn bản. Ông đã được Bộ giáo dục tặng Bằng khen về những đóng góp lớn trong việc viết sách giáo khoa.
Là một nhà giáo giỏi chuyên môn, có uy tín rất cao đối với đồng nghiệp, phụ huynh cũng như học sinh, ông lại có lối sống cũng như tác phong chan hoà, gần gũi với mọi người. Say mê với chuyên môn nhưng ông vẫn dành thời gian tham gia đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố khoá 7, Hội đồng nhân dân quận Hoàn Kiếm khoá 11 và 12. va fhiện nay ông vẫn đang là một hạt nhân đoàn kết và thi đua, phát huy vai trò lãnh đạo trong cương vị là Bí thư chi bộ trường THCS Trưng Vương trong nhiều khoá liền.
Nhà giáo Vũ Hữu Bình đã được Hội Toán học Việt Nam trao tặng Giải thưởng Lê Văn Thiêm. Ông cũng đã được Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú ngay đợt đầu tiên (1988). Năm 2002 này, ông đang được đề nghị Nhà nước xét phong tặng danh hiệu cao quý Nhà giáo nhân dân.
Những danh hiệu khác nữa rồi sẽ đến với ông. Nhưng có lẽ phần thưởng cao nhất chính là sự thành đạt của lớp học trò, tình cảm biết ơn chân thành của họ đối với ông, là những phút giây ông thư thái trong ngôi nhà ấm cúng, thuận hoà, con cái thành đạt của mình, sau những nỗ lực cống hiến vì sự nghiệp trồng người. Phần thưởng ấy thì ông đã được nhận xứng đáng từ lâu rồi. và ông sẽ được tiếp tục nhận những niềm vui như thế nữa, bởi ông vẫn đang tiếp tục cống hiến.

Nguyễn Thành Phong
---------------------------------------------------------------
Thầy Vũ Hữu Bình - Giáo viên Chuyên toán trường THCS Trưng Vương


Một bài viết khác về thầy:

Từ ngõ Tức Mạc, thầy chuyển về phố Yên Thái, cạnh ngõ Tạm Thương, nghĩa là “ẩn dật” hơn so với phố Hàng Bông mà thầy cùng gia đình ở từ nhỏ. Nhưng cái danh “thầy Bình Trưng Vương” thì chưa bao giờ ẩn. Một năm trở lại đây, thầy không phải hàng ngày đi đến trường nữa, song nghề thầy thì vẫn chưa dứt, đặc biệt là việc viết sách dạy và học Toán. Thầy vui mừng cho biết cuốn sách thứ 100 do thày biên soạn sắp ra đời. Danh hiệu cao quý nhất ,mà bất cứ người làm thầy nào cũng mơ ước và phấn đấu, thầy đã vinh dự nhận năm 2002. Thầy là Nhà giáo Nhân dân Vũ Hữu Bình. Xin được kể ba câu chuyện về một người thầy phố cổ Hà Nội.

Câu chuyện thứ nhất: 14 năm và một tấm bằng đại học.

Năm 1961, 18 tuổi, thầy tốt nghiệp phổ thông vào loại xuất sắc ở một trường nổi tiếng Hà Nội – trường Bưởi – Chu Văn An. Mơ ước cháy bỏng của thầy là được vào đại học sư phạm để sau này ra làm thày giáo. Nhưng vì không đạt tiêu chuẩn về lí lịch, thầy không thể thực hiện giấc mơ. Tuy nhiên, nghề giáo vẫn luôn là tiếng gọi thiêng liêng với chàng thanh niên 18 tuổi đầy nhiệt huyết. May mà lúc đó Hà Nội đang thiếu nhiều giáo viên, thầy đi học lớp sư phạm cấp tốc trong ba tháng và được phân công dạy cấp II tại Gia Lâm. Thế là được làm thầy. Vừa dạy, lại tiếp tục học bằng nhiều con đường khác nhau, đến năm 1975, nghĩa là sau 14 năm sau khi đứng lớp, thầy cũng đã có được tấm bằng tại chức Đại học sư phạm.

Tâm sự về việc học của một người thầy, thầy Bình nói: “Quan trọng nhất là phải thật sự yêu nghề, yêu trẻ để hiểu các em muốn gì ở mình, luôn biết cách tổ chức lớp học đẻ các em có thể tiếp thu tốt nhất, luôn gần gũi để giúp các em hoàn thiện nhân cách. Nghiệp vụ sư phạm và kinh nghiệm nghề là rất cần thiết. Vì vậy, muốn làm thầy tốt thì phải không ngừng học và tự học. Suốt 14 năm phấn đấu đến trình độ đại học sư phạm là tôi có ý thức như vậy”.

Điều đáng nói nữa là 14 năm ấy cũng là 14 năm đầy khó khăn, không riêng của gia đình thầy. Hai cuộc chiến trnah phá hoại làm thầy và gia đình không thể yên ổn, cả nơi ở và nơi công tác, học hành. Như mọi người trong thời chiến, hai vợ chồng nhà giáo cũng phải làm thêm đủ nghề mới đủ sống. Cô giáo Lương Hiền thì đan len. Thầy giáo Bình thì vẽ truyền thần, làm chuồng 3 tầng để nuôi chim bồ câu, gà vịt… Rồi cũng qua. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, ngọn lửa nơi trái tim người thầy vẫn cháy khôn nguôi.

Câu chuyện thứ hai: Dạy học, đó là công việc cả đời

“Chức vụ quản lí cao nhất mà tôi đã làm là tổ trưởng chuyên môn” – thầy Bình cười và nói như vậy, rất thanh thản. “Vì chỉ dạy thôi cũng đã bị cuốn lắm rồi. Để có được một tiết dạy hoàn hảo, phải đầu tư rất nhiều công sức và thời gian. Chưa kể còn bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp, từ trường đến quận, thành phố, quốc gia… Được phân công là mừng nhưng cũng lại phải lo để hoàn thành nhiệm vụ”.

Suốt hơn 40 năm dạy học, chỉ “trung thành” với cấp trung học cơ sở, thầy Bình được mệnh danh là một thầy giáo có nhiều học sinh thủ khoa nhất, cũng nhiều học sinh giỏi nhất. Thầy có đến 25 học sinh đoạt giải Toán toàn quốc , có 9 em sau này đoạt giải Toán quốc tế.

“Nhưng mừng nhất là tình cảm của học sinh dành cho mình” – thầy Bình nói. Thầy nhớ mãi em Phạm Chung Thuỷ, hoàn cảnh gia đình neo đơn, nhà xa nhưng vẫn vượt lên học giỏi, đoạt giải nhất Toán quốc gia, sau này đoạt giải Ba Toán quốc tế. Nhớ ơn thầy Bình, từ Thổ Nhĩ Kỳ xa xôi, em đã nâng niu giữ gìn để mang về tặng thầy một bộ li làm kỷ niệm. Hiện Thuỷ đang làm tiến sĩ ở Mĩ. Hay có một học sinh cũ của thầy chuyển vào công tác tại thành phố Hồ Chí Minh, gặp nhiều trắc trở cảm thấy bi quan, em đã viết thư tâm sự với thầy Bình và xin thầy lời khuyên. “Như thế là các em vẫn tin mình lắm” – thầy Bình tự hào nói.

Thầy Bình cũng có niềm vui nho nhỏ khác trong đời làm thầy, đó là có nhiều cặp mẹ – con đều là học sinh của thầy và đều học giỏi. Thầy chỉ tiếc là không có nhiều thời gian để dạy nhiều học sinh hơn nữa, theo yêu cầu của phụ huynh, dù rất nhiều người biết tiếng thầy muốn gửi con cho thầy luyện. Tuy nhiên, dù đã nghỉ hưu song thầy vẫn không thể nghỉ dạy, bởi các câu lạc bộ Toán, các lớp bồi dưỡng học sinh giỏi toán THCS… vẫn rất cần trí tuệ, kinh nghiệm và tâm huyết của thầy.

Câu chuyện thứ ba: 42 năm, 21 năm và 100 cuốn sách

Mơ ước làm thầy đã được 42 năm, nhưng thầy Bình chỉ thực sự bắt tay vào công việc viết sách một nửa số thời gian ấy. Tuy nhiên, để có được 100 cuốn sách mà cuốn nào cũng được người sử dụng rất hoan nghênh, kinh nghiệm dạy học là vô cùng quan trọng. Thầy Bình tâm sự rất chân thành: “Viết sách cho giáo viên hay cho học sinh cũng vậy, phải hiểu được họ cần gì. Muốn hiểu như vậy, phải trải nghiệm trong vị trí của họ.”.

Viết sách và dạy học là hai công việc mà thầy Bình yêu thích như nhau và quả thật, nố hỗ trợ nhiều cho nhau. Nếu chỉ đọc sách của thầy, không thể nghĩ rằng viết sách là nghề “tay trái” của thầy, bởi tính khoa học và tính sư phạm cao sâu của những cuốn sách này. Khó tìm tháy một người thầy lại có mặt trong hội đồng biên soạn sách của cả bốn khối lớp trung học cơ sở.

Thầy còn viết nhiều sách hướng dẫn dạy Toán, bồi dưỡng học sinh giỏi toán. Thầy bảo: “Dạy tốt thì giúp ích cho vài chục học sinh trên lớp. Nhưng nếu viết ra được những cuốn sách tốt thì có thể giúp cho cả trăm ngàn em”. Chả thế mà có những cuốn sách của thầy Bình đã tái bản nhiều lần với số lượng in lên đến 700.000 bản. Một kỷ lục hiếm có về sách giáo dục.

Dạy học, viết sách song song đã giúp thầy Bình cho ra đời hàng chục sáng kiến, kinh nghiệm, trong đó có 2 sáng kiến loại A và 8 sáng kiến loại B của thành phố Hà Nội. Cuốn sách thứ 100 của thầy Bình nằm trong bộ sách “Nâng cao và phát triển” với tiêu đề “Nâng cao và phát triển Toán 9” . Những học sinh muốn học giỏi toán đều tìm đến những cuốn sách loại này do thầy Bình biên soạn.

Về hưu rồi nhưng thầy Bình vẫn cặm cụi bên những trang bản thảo để tiếp tục trải ra giấy kinh nghiệm cả cuộc đời dạy học của mình, cho nhiều thế hệ học trò hôm nay và mai sau. Đáng quý thay tấm lòng một Nhà giáo Nhân dân. Càng thêm quý hơn khi biết rằng, qua 8 lần phong tặng, trong số 189 Nhà giáo Nhân dân, duy nhất có thầy giáo Vũ Hữu Bình ở bậc trung học cơ sở.

Nguyễn Thị Trâm

------------------------------------------------------------------------------------------
Hình ảnh một số sách Toán thầy Vũ Hữu Bình viết :





Còn rất nhiều bài viết khác của các thế hệ học sinh Trưng Vương viết về thầy Vũ Hữu Bình tại trang web:http://thaybinh.wordpress.com/category/bao-chi-vi%E1%BA%BFt-v%E1%BB%81-th%E1%BA%A7y-binh/
-----------------------------------------------------------------------------------

Nhà giáo nhân dân Vũ Hữu Bình với tài năng và sự tâm huyết cho nền Toán học Việt Nam đã trở thành tấm gương sáng cho biết bao thế hệ học trò cũng như những giáo viên của trường THCS Trưng Vương.

Thay mặt nhà trường, ban biên tập Website trungvuong.edu.vn kính chúc thầy mạnh khoẻ - hạnh phúc và hi vọng rằng thầy sẽ còn đóng góp nhiều hơn nữa trí tuệ và sự đam mê của mình cho Toán học nước nhà

21 năm dạy chữ trên giường

Không qua trường lớp, không nghiệp vụ sư phạm, bản thân là người bị liệt, vậy mà 21 năm qua, người thầy ấy đã dạy chữ cho hàng trăm em học trò nghèo, không ít em giờ đã thành đạt và đang theo học tại các trường đại học.

Nơi vùng quê nghèo xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân (Thanh Hóa) không ai là không biết biết danh tiếng thầy giáo Nguyễn Trung Nghĩa, ở thôn Quyết Thắng 1. Thầy Nghĩa chưa hề học qua trường lớp hay nghiệp vụ sư phạm nào, trong khi bản thân thầy là một người bị liệt hơn 30 năm. Thế nhưng, 21 năm qua, tại ngôi nhà nhỏ nơi xóm nghèo, thầy Nghĩa đã thầm lặng gieo từng con chữ cho hàng trăm học sinh (HS) nghèo.


Học sinh đến với thầy Nghĩa hầu hết là con các gia đình nghèo.

Người thầy không bằng cấp

Nằm cách thị trấn Thọ Xuân chừng 30 km về phía Tây, chúng tôi tìm đến ngôi nhà nhỏ nằm nơi xóm Quyết Thắng 1, xã Xuân Bái. Trong căn nhà nhỏ do Hội Chữ thập đỏ tỉnh Thanh Hóa hỗ trợ xây dựng từ năm 2008, là một lớp học sắp tan giờ. Thấy người lạ vào lớp, như chuẩn bị từ trước, tất cả các em HS đều đứng dậy đồng thanh chào khách.
Trước mắt chúng tôi là một người thầy với khuôn mặt phúc hậu, làn da sạm đen đang nằm trên chiếc giường cũ kỹ giảng bài cho HS. Và đó cũng là hình ảnh thường thấy của thầy Nghĩa hơn 20 năm qua.

Sinh ra trong một gia đình đông anh em, Nghĩa là đứa trẻ thông minh, khỏe mạnh. Rồi tai họa ấp đến bất ngờ, năm 1965, anh bị mắc bệnh thấp khớp teo cơ.

Dù bị bệnh tật hành hạ, nhưng với lòng ham học của mình, Nghĩa vẫn chăm chỉ đến trường đi học. Khi vừa học xong lớp 7/10, cũng là lúc bệnh của Nghĩa ngày một nặng hơn và rồi anh phải từ bỏ ước mơ tới trường của mình từ đấy.

Sau 15 năm điều trị căn bệnh quái ác, không những không khỏi mà nó còn khiến các cơ cứ teo lại, co rút hết chân tay làm Nghĩa mất khả năng đi lại.

21 năm qua, thầy Nghĩa nằm một chỗ trên giường dạy chữ cho học sinh nghèo.

Từ đó, thế giới không gian đối với anh chỉ là khoảng sáng của ô cửa sổ bên chiếc giường nhỏ. Mọi sinh hoạt hàng ngày càng trở nên khó khăn hơn, nhiều lúc anh thấy mình như bị rơi vào hố sâu của sự tuyệt vọng bởi số phận quá nghiệt ngã với anh. Nhưng với ý nghĩ “tàn nhưng không phế”, cùng với tình yêu cuộc sống mãnh liệt, anh đã sống những ngày tháng không hề vô nghĩa.

Bằng nghị lực của bản thân, bằng niềm khát khao cống hiến tri thức, năm 1990, anh mở lớp học đầu tiên và cũng từ đó hai từ “thầy Nghĩa” được người dân trong thôn gọi một cách trìu mến và kính trọng. Tuy bị liệt nửa người nhưng mọi sinh hoạt cá nhân như tắm rửa, giặt giũ thầy đều tự làm lấy.

Không những “tự phục vụ” cho bản thân thầy còn chăm sóc chu đáo một mẹ già ốm yếu nay đã ngoài 90 tuổi. Hàng xóm ai cũng khen thầy hiếu thuận với mẹ. Hôm nào thầy cũng dậy sớm nấu cháo cho mẹ ăn, rồi cơm nước hai mẹ con đều do thầy nấu nướng. Mọi sinh hoạt của hai mẹ con đều diễn ra quanh chiếc giường nhưng khá gọn gàng, sạch sẽ.

Cảm phục tấm lòng của một người thầy

Mọi hoạt động sinh hoạt hàng ngày với thầy Nghĩa đã là một khó khăn, nhưng với công việc của một người thầy đứng trên bục giảng lại là một thử thách không nhỏ.Thầy Nghĩa tâm sự: “Mình nằm một chỗ trên giường nên công việc giảng dạy cho các cháu gặp nhiều khó khăn. Khó khăn nhất là lúc viết lên bảng, tôi phải nhờ các cháu khênh bảng để ra đầu giường, tôi viết xong lại phải nhờ các cháu treo lên hay lúc bài cho các cháu tập viết… ”.

Hình ảnh thầy Nghĩa đã khắc sâu vào tâm trí biết bao thế hệ học trò nơi vùng quê nghèo.

Lớp học thầy Nghĩa không giống với bất kỳ một lớp học nào bởi trình độ của các em HS không giống nhau, thầy dạy hai môn Văn - Toán với các em từ mẫu giáo đến lớp 5. Cánh tay trái duy nhất trên cơ thể còn cử động lúc cầm phấn viết bảng lúc lại cầm những bàn tay nhỏ nắn nót từng nét bút đầu đời cho các học trò nghèo, lúc lại làm những công việc vặt trong gia đình nuôi bản thân và mẹ già.

Chương trình giáo dục cải cách và đổi mới liên tục nên thầy vừa dạy vừa phải mượn sách vở của các em học trước về nghiên cứu. Hầu hết các em HS đến với thầy chủ yếu là con em các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, ở xa nên thầy không thu học phí, nhiều gia đình ở xa như huyện Thường Xuân còn gửi luôn ở nhà thầy, nhờ thầy dạy dỗ.

Đến nay, đã có hơn 300 HS được thầy Nghĩa dạy chữ, nhiều lớp HS giờ đây đã trưởng thành và đang theo học tại các trường đại học danh tiếng như: ĐH Y Thái Bình; Học viện Tài chính, ĐH Bách khoa Hà Nội và nhiều em học xong trở về quê hương công tác.

Không chỉ dạy học, hàng ngày dù nằm một chỗ nhưng thầy vẫn tận tụy chăm sóc mẹ già 90 tuổi.

Bác Nguyễn Văn Quang, một người dân địa phương tự hào và không giấu được xúc động khi nói về thầy Nguyễn Trung Nghĩa: “Người dân chúng tôi ai cũng cảm phục tấm lòng cao cả của thầy Nghĩa cả. Nếu không có thầy chắc nhiều con em HS gia đình nghèo trong xã không có điều kiện đến trường mất. Hoàn cảnh thầy đúng là rõ khổ, bản thân tàn tật, lại còn phải nuôi cả mẹ già nữa. Người dân chúng tôi thương thầy lắm nhưng cũng không giúp được gì nhiều cho thầy. Chúng tôi chỉ cầu mong cho thầy có sức khỏe để giúp đỡ các cháu HS nghèo của địa phương”.

Nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, xin được gửi tới thầy lời chúc sức khỏe để tiếp tục “đưa con đò chở chữ” đến với các học trò nghèo!

(Theo Dân trí)

GƯƠNG NHÀ GIÁO ƯU TÚ TRẦN THỊ NGÁT



Từ năm học 1999 - 2000 đến nay, Trường tiểu học Đông Phú 2, luôn là một trong những đơn vị được ngành giáo dục đánh giá là lá cờ đầu của bậc tiểu học trong huyện, với đội ngũ giáo viên có chất lượng, giầu thành tích. Trong kết quả chung đó có sự đóng góp đáng kể của cô giáo Trần Thị Ngát – hiệu trưởng nhà trường, với lòng yêu nghề và sự nỗ lực không mết mỏi, cô Ngát đã đạt nhiều thành tích trong sự nghiệp trồng người. Đặc biệt tháng 11 Năm 2010 cô đã được chủ tịch nước ký quyết định phong tặng danh hiệu nhà giáo ưu tú, đây là phần thưởng cao quí động viên tinh thần và khích lệ cô có nhiều đóng góp hơn nữa cho sự nghiệp GD của huyện nhà.

Trò chuyện với chúng tôi cô ngát tâm sự: Sinh ra và lớn lên ở xã Thắng Cương – huyện Yên Dũng, tháng 9 năm 1972 cô thi đỗ vào trương Trung học sư phạm miền núi Lục Ngạn. Năm 1974 tốt nghiệp ra trường cô được điều động về giảng dậy tại Trường cấp 1+2 Cẩm Lý. Năm 1979 cô tiếp tục được cử đi học nâng cao lấy bằng sư phạm 10+2. Năm 1980 cô Ngát lại được điều về công tác tại Trường cấp 1+2 Phương Sơn và được bổ nhiệm làm hiệu phó. Năm 1983 huyện ta sát nhập các nhà trẻ quanh khu vực thành nhà trẻ khu vực huyện Lục Nam và cô Ngát lại được điều về làm chủ nhiệm. Tháng 10 năm 1989 cô Ngát lại được điều về làm giáo viên giảng dậy tại trường cấp 1 Đông Phú. Năm 1994 Trường cấp 1 Đông Phú tách thành trường tiều học 1 và 2 cô được bổ nhiệm là hiệu phó và năm 1995 đến nay làm hiểu trưởng Trưởng tiều học Đông Phú 2. Với dáng người nhỏ nhắn, nói năng nhỏ nhẹ, nụ cười dịu dàng, gương mặt xinh đẹp, cộng với sự năng nổ nhiệt tình cô Trần Thị Ngát nhanh chóng chiếm được cảm tình của các em học sinh và đồng nghiệp. Dòng đời với biết bao đưa đẩy và thay đổi, nhưng với cô Ngát –được gặp các em học sinh mỗi buổi – đã là hạnh phúc. Và hạnh phúc đó đã gắn với cô suốt 37 năm qua. Dù được phân công và điều động công tác về bất cứ nơi nào cô Ngát vẫn luôn khẳng định tình yêu nghề mến trẻ và lòng nhiệt tình gắn bó với ngành giáo dục.

Cũng đã trải qua những năm tháng thăng trầm của thời cuộc, cũng đã có những ưu tư trăn trở giống như mọi người. Nhưng nghĩ đến sự nghiệp giáo dục của địa phương nghĩ đến các em học sinh thân yêu Cô Ngát lại vượt lên tất cả. Với một mong muốn đó là XD sự nghiệp GD của xã Đông Phú nói riêng và XD trường tiểu học Đông Phú số 2 thành trường học đạt chuẩn Quốc gia. Nói là làm, cô Ngát cùng BGH nhà trường luôn tranh thủ mọi điều kiện, đề xuất Phòng GD huyện quan tâm và tham mưu cho xã có nghị quyết XD Trường đạt chuẩn quốc gia. Những năm đó việc XD trường học đạt chuẩn quốc gia là 1 vấn đề vô cùng khó với cả những xã có điều kiện kinh tế khá như Đồi Ngô hay Tiên Hưng, huống chi với một trường ở vùng núi như Đông Phú kinh tế địa phương còn nghèo. Thế nhưng bằng cách vận động khoé léo có tính thuyết phục cao nên Đảng uỷ - HĐND –UBND xã đã có nghị quyết cho việc XD Trường chuẩn, bằng nguồn vốn hỗ trợ của nhà nước ngân sách địa phương, từ một trường học luôn đúng ở vị trí trung bình, cơ sở vật chất nhà lớp học là nhà cấp 4 đã xuống cấp Trường TH Đông Phú số 2 đã XD được cơ sở vật chất khang trang. Bên cạnh đó Bản thân cô Ngát đã cùng với BCH nhà Trường phối hợp với các ngành đoàn thể hội giáo chức, hội khuyến học của xã thực hiện có hiệu quả công tác xã hội hoá giáo dục, đặc biệt là vận động con em địa phương và đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn hỗ trợ ngày công, tiền của vật chất đã gúp nhà trường nhanh chóng hoàn thành mục tiêu XD các tiêu chí của trường chuẩn. Năm học 1999 - 2000 Trường tiểu học Đông Phú số 2 vinh dự được Bộ GD công nhận trường đạt chuẩn quốc gia (đây là trường thứ 2 của huyện) được công nhận danh hiệu cao quí này. Với cương vị là hiệu trưởng cô Ngát đã luôn tích cực tham mưu cho cấp uỷ Chính quyền địa phương đầu tư cơ cở vật chất, trang thiết bị, đồng thời thực hiện tốt các phong trào thi đua do ngành GD phát động, chất lượng dậy và học của nhà trường từng bước được nâng lên. Do vậy từ năm 2000 đến nay Trường tiểu học Đông Phú 2 luôn giữ vững danh hiệu chuẩn quốc gia mức 1 và đang được đề nghị công nhận chuẩn mức 2 trong năm học 2010 - 2011. Thành tích đó là sự quan tâm của cấp uỷ - chính quyền địa phương, sự cố gắng không mệt mỏi của tập thể cán bộ giáo viên và học sinh. Đặc biệt là những đóng góp của cô giáo Trần Thị Ngát.

Dù khi là giáo viên trực tiếp đứng trên bục giảng, hay được phân công làm công tác quản lí cô giáo Trần Thị Ngát tận tâm, hết mình vì công việc. Luôn trau rồi kinh nghiệm học hỏi chuyên môn nghiệp vụ từ đồng nghiệp để có những bài giảng hay, giúp học sinh nhanh tiếp thu bài giảng. Tâm sự về những khó khăn và cũng là những kỷ niệm trong nghề cô Ngát tâm sự: Đó là những ngày tôi được phân công về làm chủ nhiệm nhà trẻ trung tâm huyện (nay là nhà trẻ Hoa Hồng)nhà trẻ mới được thành lập phải đích thân tôi đi vận động các cơ quan xin hỗ trợ kinh phí nuôi trẻ, khi đó tôi đã mạnh dạn áp dụng sáng kiến vừa nuôi vừa dậy trẻ theo chương trình và khi về trường tiểu học Đông Phú 2 mục tiêu XD và giữ vững trường học đạt chuẩn quốc gia đã thành công. Như người lái đò đưa khách sang sông, mấy ai nhớ đến chuyến đò mình đi qua do ai cầm lái. Cuộc đời lặng lẽ trôi, lòng yêu nghề mến trẻ của cô Ngát vẫn mặn mà, đằm thắm. Học sinh yêu cô ở tấm lòng tận tụy, đồng nghiệp quý cô ở sự trách nhiệm, thủy chung. Dù ở trường nào cô cũng luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Năm 1982 cô được công nhận giáo viên dậy giỏi cấp tỉnh, 3 năm đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua. Trong quá trình công tác cô Ngát cũng đã có 6 sáng kiến kinh nghiệm được Hội đồng cấp huyện công nhận đưa vào sử dụng thực tiễn và được đánh giá tốt. Với những gì đã làm được cô thực sự là tấm gương cho nhiều thầy cô trong và ngoài trường học tập và noi theo.

Với những gì đã làm cho ngành giáo dục nói chung, cho các em học sinh trong suốt 37 năm công tác cô đã 4 lần được UBND tỉnh BG tặng bằng khen; 2 bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2000 đến 2004. Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2009. Được Bộ GD tặng huy chuơng vì sự nghiệp GD, Tổng liên đoàn LĐVN tặng huy chương vì sự nghiệp công đoàn và ngày ..tháng 11 năm 2010 cô là 1 trong 13 thầy cô giáo trong tỉnh được chủ tịch nước ký QĐ phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú.

Những suy nghĩ và việc làm của nhà giáo ưu tú Trần Thị Ngát cho sự nghiệp GD của huyện thật đáng trân trọng và tự hào. Ta chúc cho cô sức khoẻ và có nhiều đóng góp hơn nữa để góp phần đứạư nghiệp GD – ĐT của xã Đông Phú nói riêng huyện nhà nói chung ngày càng phát triển./.

Gương sáng của một thầy giáo nông dân

Là một thầy giáo nông dân không bằng cấp, nhưng hơn 10 năm qua thầy Vũ Mạnh Hưng, tại xã Nghĩa Hiệp (huyện Yên Mỹ - Hưng Yên) vẫn miệt mài với nghiệp trồng người, giúp hàng trăm học sinh nghèo đỗ vào các trường ĐH, CĐ có giá trên toàn quốc. Được Đảng bộ tỉnh Hưng Yên và Tiến sĩ Vũ Ngọc Kỳ khen ngợi là “Thầy giáo nông dân có thành tích tiêu biểu trong thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, được học trò khắp tỉnh và các tỉnh lân cận đến theo học.



Duyên nghề dạy học

Trên quãng đường hơn 30km trải dài từ thủ đô Hà Nội về xã Nghĩa Hiệp, huyện Yên Mỹ, chúng tôi luôn mường tượng người thầy giáo mình sắp gặp có cái tên Vũ Mạnh Hưng. Tiếp chúng tôi trong căn nhà cấp 4 lụp xụp, thầy tự hào kể về cái duyên nghề trồng người của mình.

Sinh năm 1958, trong một gia đình có truyền thống dạy học, ông nội là thầy giáo Vũ Trọng Huân từng dạy học tại trường Chu Văn An ( Hà Nội), bố Vũ Mạnh Sáng là giảng viên của trường Y khoa Thái Bình nên ngay từ nhỏ ước mơ của Vũ Mạnh Hưng sau này tiếp tục nối nghiệp truyền thống gia đình đã được ấp ủ. Thế nhưng khi mới vừa học hết kỳ 1 lớp 10 (lớp 12 hiện nay), ông đã quyết định viết đơn xung phong lên đường ra trận bảo vệ Tổ quốc. Năm 1981, phục viên trở về quê, ông lại chọn ruộng đồng làm kế sinh nhai.

Cuộc sống khó khăn của những năm sau đó đã buộc ông phải làm nhiều nghề mưu sinh, như đi buôn ve chai, đẩy xe bò đến mò tôm bắt tép... Dù cuộc sống bấy giờ gặp nhiều khó khăn nhưng ông vẫn cố gắng tần tảo lao động kiếm tiền cho các con của mình đi học với mong muốn sẽ thay mình nối nghiệp ông cha. Nhưng ước muốn của người cha này gần như đã phải “ngậm trái đắng” khi nhận được kết quả học tập quá kém cỏi của cậu con trai cả Vũ Quý Đôn. “Ngày xưa, tôi là học sinh tiêu biểu của trường, những kiến thức đã được học nay xem lại tôi thấy có thể dạy được. Thế là ngày đi làm, tối về tôi lại mang sách ra tự học lại rồi kèm cặp dạy cho con”. Ông Hưng nhớ lại.

Thật bất ngờ, sau một tháng được bố kèm cặp, lực học của Đôn đã chuyển biến rõ rệt. Từ một học sinh thuộc vào hạng dốt nhất lớp, Đôn vươn lên trở thành học sinh giỏi, được chọn vào đội tuyển thi học sinh giỏi của trường, huyện. Năm lớp 12, cậu còn dành giải nhì trong kỳ thi học sinh giỏi toán toàn tỉnh, một thành tích mà lúc bấy giờ ở xã chưa có một ai đạt được. Năm 2007, Đôn thi đỗ vào khoa Tự động hóa, ĐH Bách Khoa Hà Nội với số điểm khá cao. Không chỉ dạy con mình, thấy các cháu con các gia đình trong họ, trong làng, các gia đình đồng đội học tập kém, ông cũng giúp đỡ kèm cặp thêm. Sức học của các em cũng không ngừng được cải thiện, tốt hơn trước.

Tiếng lành đồn xa, nhiều học sinh ở các địa phương xung quanh cũng tìm đến nhờ ông dạy học ngày càng nhiều. Thương các em học sinh đều là con nhà nghèo nhưng lại rất ham học, nên ông đã quyết định gác mọi công việc, “quy hoạch” thêm hai gian nhà, mua gỗ về đóng bàn ghế, bảng để làm nghề trồng người như ước nguyện ông cha. Lớp học đầu tiên được ông mở ra năm 1999, với 10 học sinh đang học lớp 12. Kết thúc kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ năm đó, cả 10 học sinh do ông kèm đều đỗ vào các trường danh tiếng. “Lúc đó, tôi đã mừng rơi cả nước mắt. Đó là niềm khích lệ rất lớn với một người thầy nông dân lại không có bằng cấp như tôi lúc bấy giờ” ông Hưng nói.

Tài, tâm người thầy

Hơn 10 năm gắn bó với nghiệp trồng người, dù không có bằng cấp nhưng thầy giáo nông dân nhân hậu Vũ Mạnh Hưng thực sự là một tấm gương sáng của ngành giáo dục, là điểm tựa trí tuệ để các em học sinh hướng tới mạch máu con chữ. Ông Hưng chia sẻ: “Trong cuộc sống, dù có thành đạt hay không đều phải có nhân cách sống, và người thầy phải là tấm gương, dạy học phải vì cái tâm. Ít nhiều người thầy cũng dạy cho các em cốt cách của người hiểu biết. Như vậy, "thầy phải ra thầy" thì mới đòi hỏi "trò ra trò..."

Nói về phương pháp dạy, ông Hưng chia sẻ, trong những buổi dạy, thầy trò luôn bình đẳng, tranh luận với nhau để đưa ra kết quả chính xác nhất. Thay vì dạy cho các em giải những bài toán, lý, hóa một cách khô cứng, ông còn đưa vào trong đó các vần thơ, câu văn để minh họa cho các bài tập, từ đó giúp học sinh dễ hiểu hơn. “Tuy nhiên, người thầy phải luôn hơn học sinh ở cái đầu, chính vì vậy tôi thường thức thâu đêm, nghiên cứu và giải những dạng đề cao hơn để sáng ngày truyền đạt cho các em, tất nhiên cách truyền đạt cũng phải phù hợp để các em dễ hiểu”. Ông Hưng nói thêm.

Em Vũ Thị Trang, quê ở Hải Dương cho biết: “Nghe mọi người khen thầy Hưng dạy cho nhiều học sinh nghèo đỗ Đại học, bố em đã liên hệ và cứ hôm nào nghỉ bố em lại đèo em đến nhà thầy nhờ thầy giảng dạy. Thời gian học ở đây, em thấy kiến thức em đã tiến bộ hơn và học rất dễ hiểu”. Được học trò yêu quý, phụ huynh học sinh tin tưởng gửi gắm con em, hàng ngày bất kể trời nắng hay mưa, thầy giáo nông dân cũng mở cựa đón học sinh tới học và dạy một cách tận tâm dù nhiều hay chỉ một em mà không bao giờ đòi hỏi tiền nong, công sức. Những lúc rảnh, ông lại thu mua các dụng cụ, thiết bị điện tử về nhà tự sửa chữa thành sản phẩm như quạt, đèn điện, máy móc dùng và cho các em học sinh áp dụng thực tế vào các môn học lý, hóa.

Kể từ khi làm nghề dạy học đến nay, biết bao thế hệ học trò không chỉ trong tỉnh mà cả ở các tỉnh lân cận như Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Giang… cũng được bố mẹ chở đến nhờ thầy dạy học và tất cả đều đạt thành tích cao và trưởng thành. Nhắc đến những cái tên như Bùi Lan Anh (thủ khoa trường Đại học Hà Nội), Nguyễn Văn Thành (Đại học An Ninh), Nguyễn Văn Khương (Đại học Bách Khoa)...đặc biệt là cậu con trai Vũ Quý Đôn (Đại học Bách khoa Hà Nội). Ông chỉ tâm niệm một điều: “Chỉ cần các em có được thật nhiều tri thức, thành công là tôi vui rồi”.

Trước lúc chia tay thầy giáo nông dân ra về, ông còn thủ thỉ với tôi: “Tôi đã bước qua cái tuổi xế chiều, nhưng sống ngày nào tôi còn cố gắng hết mình dạy kiến thức cho các em học sinh. Chỉ mong các em hãy chú tâm vào việc học, không sa vào các tệ nạn xã hội và được thành đạt”.

Nguồn tin: dvhnn.org.vn

Noi gương nhà giáo Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành- Hồ Chí Minh tấm gương sáng ngời về đạo đức, tinh thần tự học và sự sáng tạo để mọi người học tập và noi theo.
ĐHCSND - Sinh thời, Bác Hồ thường căn dặn các thầy giáo, cô giáo phải có ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức và trách nhiệm phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực trong giáo dục.

Trong cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những thời điểm trực tiếp là nhà giáo. Từ tháng 9-1910 đến trước tháng 2-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành dạy học ở Trường Dục Thanh, Phan Thiết. Sau khi đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trong những năm 1925 - 1927, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc), trực tiếp mở các lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên, thiếu niên Việt Nam yêu nước; trực tiếp lãnh đạo và là giảng viên chính của các khóa học.

Thông qua các bài giảng và thảo luận ở tổ, nhà giáo Nguyễn Ái Quốc phân tích, so sánh làm cho học viên nhận thức sâu sắc tính chất triệt để, đến nơi đến chốn của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga so với các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ, từ đó lựa chọn con đường của cách mạng Việt Nam: Ðộc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Năm 1941, sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người luôn chăm lo việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho cách mạng; tổ chức và chỉ đạo từng bước xây dựng nền giáo dục cách mạng, nhằm thực hiện công cuộc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ.

Quá trình từ nhà giáo yêu nước Nguyễn Tất Thành, đến nhà giáo Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, khi đã là người cộng sản, cũng chính là quá trình nhà giáo Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh phấn đấu không mệt mỏi để tự học, khổ luyện trong mọi khó khăn, gian khổ để rèn luyện đạo đức, ý chí cách mạng và qua đó sự sáng tạo của Người bộc lộ sáng ngời trên mọi lĩnh vực công tác.

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành- Hồ Chí Minh tấm gương sáng ngời về đạo đức, tinh thần tự học và sự sáng tạo để mọi người học tập và noi theo.

Ðạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu và xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng. Ðặt đạo đức ở vị trí là gốc, là nguồn, là nền tảng của người cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên tự tu dưỡng đạo đức về mọi mặt để làm gương giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên, công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, công an, thanh niên, thiếu nhi, giáo viên, học sinh và sinh viên, v.v.

Nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm là nét đẹp trong văn hóa phương Ðông và văn hóa Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng và trở thành nguyên tắc chỉ đạo xây dựng đời sống mới và rèn luyện hằng ngày của Người. Lời nói phải đi đôi với việc làm, thì mới đem lại hiệu quả thiết thực cho chính bản thân mình và có tác dụng đối với người khác. Do đó, Bác Hồ căn dặn: "... một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền" (1).

Sinh thời, Bác Hồ thường căn dặn các thầy giáo, cô giáo phải có ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức và trách nhiệm phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực trong giáo dục; Yêu nghề, yêu ngành, yên tâm công tác, mô phạm trong quan hệ với nhân dân, đồng nghiệp và người học, thương yêu học sinh và sinh viên; Ðoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ, thật thà phê bình, đấu tranh, ngăn chặn nhà giáo vi phạm pháp luật và quy định nghề nghiệp. Thầy giáo, cô giáo phải có chí khí cao thượng, phải "tiên ưu hậu lạc", nghĩa là khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ.

Nhà giáo Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh còn nêu tấm gương sáng ngời về tu dưỡng đạo đức suốt đời. Hằng ngày, Người chăm lo tu dưỡng bản thân, ung dung tự tại, lạc quan, yêu đời, không chủ quan, tự mãn, thắng không kiêu, bại không nản. Ðồng thời, Người còn đề xuất nhiều phong trào quần chúng rộng rãi để rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ, bộ đội, công nhân, nông dân, thanh - thiếu nhi. Trong ngành giáo dục, Bác Hồ đã khởi xướng phong trào thi đua "Dạy tốt, học tốt" từ năm 1961 và trở thành truyền thống của nhà giáo, học sinh và sinh viên từ đó đến nay.

Tự học là quá trình tự thân vận động của mỗi người để tích lũy những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm lịch sử - xã hội mà nhân loại tích lũy được trong quá trình phát triển, biến nó thành kinh nghiệm và kỹ năng riêng cho cá nhân mỗi người. Ngoài những tri thức ban đầu học được ở các thầy giáo khi còn nhỏ ở quê và khi còn trên ghế nhà trường ở Huế, thì suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tri thức, kiến thức có được chủ yếu là do tự học và bản thân không ngừng tự học.

Mục tiêu và động cơ học tập được Bác Hồ xác định rõ: Học để biết, học để làm việc, học để làm người, học để chung sống, học để phục vụ Tổ quốc và nhân dân, học để thực hiện nhiệm vụ cách mạng do Ðảng và nhân dân giao phó, học để phục vụ nhân loại. Do đó, Bác Hồ rất chủ động và tự giác trong học tập.

Nguyễn Ái Quốc tự học ở sách báo, học ở bạn bè và những người cùng hoạt động, học ở trên tàu, học ở thực tiễn cách mạng của nhân dân lao động trên thế giới, học mọi nơi và mọi lúc, v.v. Người đã khắc phục mọi khó khăn, tự lao động nuôi sống bản thân, hoạt động cách mạng và học tập, tìm lấy phương pháp tự học, tự nghiên cứu để học ngoại ngữ, văn hóa, chính trị, quân sự và các lĩnh vực mà Người quan tâm.

Ngày nay, sự tự học của nhà giáo vừa là quá trình để tự hoàn thiện mình vừa là tấm gương cho học trò. Học tập để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, ngoại ngữ và nghiệp vụ để phục vụ công tác và hoạt động giáo dục. Rèn luyện và sáng tạo nên phương pháp tự học, năng lực tự học, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức khoa học, công nghệ và nghệ thuật sư phạm.

Sáng tạo là đổi mới, là tạo nên những sự vật mới, giá trị mới tốt đẹp hơn. Cách mạng là sáng tạo và sáng tạo là bản chất của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cho chúng ta tấm gương sáng ngời về sự sáng tạo. Sáng tạo về phương pháp tự học, sáng tạo về phương pháp lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng, sáng tạo trong các hoạt động thực tiễn hằng ngày.

Nhờ đó, Người đã kế thừa và phát triển được những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thụ được tinh hoa văn hóa của nhân loại; tiếp nhận, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, dẫn dắt cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Ngày nay, sáng tạo của nhà giáo là sự đổi mới, là tạo ra cái mới trong hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Các nhà giáo chân chính đều sáng tạo không ngừng trong các hoạt động của mình. Sáng tạo trong vận dụng tri thức và công nghệ mới vào quá trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Chế tạo đồ dùng dạy học mới, hoặc cải tiến đồ dùng dạy học đã có phù hợp với điều kiện cụ thể của bài dạy, lớp học và người học.

Ðổi mới phương pháp giảng dạy, áp dụng công nghệ thông tin vào bài giảng. Kịp thời phát hiện và xử lý tốt các tình huống sư phạm. Biết phát hiện và bồi dưỡng những người học có năng khiếu, học giỏi, đồng thời biết bồi dưỡng và phụ đạo những người học yếu kém. Ðổi mới, cải tiến phương pháp quản lý nhà trường, quản lý học sinh, sinh viên và người học, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo.

Mỗi nhà giáo thường xuyên rèn luyện đạo đức, năng lực tự học và sáng tạo theo gương nhà giáo Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh sẽ là bước đột phá, góp phần xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong sạch và vững mạnh, tạo động lực thúc đẩy đổi mới mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục - đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn mới.

(Nguồn:  http://www.pup.edu.vn)

Nhà giáo Phan Văn Hường - con chim đầu đàn của trường THCS Lê Văn Thiêm, TP Hà Tĩnh



Chúng tôi theo đoàn làm phim của Ban Khoa giáo - Đài truyền hình Việt Nam về trường THCS Lê Văn Thiêm- thành phố Hà Tĩnh làm chương trình phóng sự Giáo dục đón chào năm học 2009 - 2010. Mặc dầu công việc chuẩn bị khai giảng năm học mới vô cùng bận rộn, nhưng Nhà giáo ưu tú Phan Văn Hường - Hiệu trưởng nhà trường đã dành thời gian, thân mật đón tiếp và dẫn đoàn đi tham quan, giới thiệu khái quát một số nét về ngôi trường thân yêu của mình, cùng những thành quả đạt được.

Thầy giáo Phan Văn Hường sinh ra và lớn lên tại Thành phố Hà Tĩnh, là người con thứ 7 trong một gia đình có 10 anh chị em. Bố mẹ đều là cán bộ, công nhân viên. Tốt nghiệp sư phạm ngành toán năm 1974, thầy được điều về giảng dạy tại trường PTCS Kỳ Châu, huyện Kỳ Anh - một vùng đất giàu truyền thống hiếu học. Trên miền quê “Đất nghèo nuôi chữ” ấy, thầy giáo trẻ Phan Văn Hường bắt đầu cuộc đời nhà giáo. Sau 4 năm giảng dạy và công tác, thầy được đứng vào hàng ngũ của đảng và được đề bạt phó Hiệu trưởng, rồi Hiệu trưởng. Cũng nơi miền quê ấy, thầy tiếp thu được nhiều kinh nghiệm quý trong lĩnh vực chuyên môn và công tác quản lý nhà trường.
Tháng 9 năm 1982, thầy được điều về làm Hiệu trưởng trường PTCS Lê Bình thuộc phường Nam Hà, thị xã Hà Tĩnh. Đầu năm học 1992 -1993, thầy lại được chuyển về trường THCS Nam Hà. 12 năm công tác tại ngôi trường này, từ buổi ban đầu mới về trường, điều kiện cơ sở vật chất gặp muôn vàn khó khăn, nhưng bằng lương tâm và trách nhiệm, bằng năng lực của người cán bộ quản lý giàu kinh nghiệm, thầy Hường đã cùng với tập thể giáo viên xây dựng nhà trường trở thành đơn vị lá cờ đầu 5 năm liên tục (từ năm học 1995-1996 đến năm học 1999 - 2000) của Ngành Giáo dục - Đào tạo Hà Tĩnh, được tặng cờ Thi đua xuất sắc của Chính phủ và được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba (1997), Huân chương Lao động hạng Nhì (2002).
Với năng lực và uy tín của mình, tháng 8 năm 2004, thầy Phan Văn Hường lại bước vào trận tuyến mới - Hiệu trưởng trường THCS Lê Văn Thiêm - trung tâm chất lượng cao của thành phố Hà Tĩnh, vinh dự lớn nhưng trách nhiệm lại càng lớn lao hơn. ở mái trường này, ngoài công việc dạy và học như bao ngôi trường khác, còn có nhiệm vụ hết sức nặng nề, đó là việc bồi dưỡng học sinh giỏi tỉnh cho toàn thành phố. Bằng sự nỗ lực, tìm tòi sáng tạo của bản thân, cùng với lòng nhiệt huyết của đội ngũ cán bộ giáo viên, trong 5 năm qua, nhà trường đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp trên tất cả các lĩnh vực công tác.
Đặc biệt trong 2 năm gần đây, thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Đảng ta tổ chức, triển khai sâu rộng trong hệ thống chính trị toàn xã hội, nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản, giá trị tinh thần to lớn của tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, với vai trò là Hiệu trưởng, kiêm bí thư chi bộ, thầy Phan Văn Hường thực hiện nghiêm túc sự hướng dẫn của Ban chỉ đạo cấp thành phố về triển khai nội dung cuộc vận động; phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên trong Ban chỉ đạo cấp trường; tổ chức nghiên cứu, học tập các chuyên đề về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; tổ chức triển khai nội dung cuộc vận động đến tận cán bộ giáo viên, nhân viên và học sinh trong toàn trường.
Sau khi cán bộ, giáo viên, nhân viên thấm nhuần nội dung và ý nghĩa cuộc vận động, nhà trường tiếp tục lấy ý kiến quần chúng góp ý cho cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên thảo luận, đóng góp ý kiến sát đúng với tình hình thực tế, Chi bộ tập hợp các ý kiến, xây dựng chương trình hành động, triển khai trong toàn trường.
Trong quá trình triển khai cuộc vận động, nhà trường đã có nhiều hình thức hoạt động phong phú, sinh động như sưu tầm các mẩu chuyện về đời hoạt động của Bác, những lời dạy của Bác đối với Ngành Giáo dục; tổ chức cho cán bộ, giáo viên, học sinh tham gia thi "Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" tại trường; chọn giáo viên và học sinh tiêu biểu dự thi kể chuyện cấp thành phố và cấp tỉnh. Kết quả các cuộc thi kể chuyện đã có 1 học sinh đoạt giải Nhất thành phố; 1 giải Nhì cấp tỉnh .
Với tự mình, thầy Phan Văn Hường luôn nêu cao ý thức rèn luyện đạo đức, lối sống, tác phong khiêm tốn, giản dị, đoàn kết thân ái với mọi người; ý chí vươn lên trong cuộc sống, trong công tác và học tập; chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của nhà trường.
Trong công việc, thầy luôn cải tiến đổi mới phương pháp quản lý, tìm ra nhiều giải pháp như soạn thảo Quy chế về chấm điểm thi đua của cán bộ, giáo viên; 16 điều quy định đối với học sinh. Trên cơ sở các điều khoản ấy để mỗi cán bộ, giáo viên và học sinh áp dụng, nhằm nâng cao nhận thức, phát huy vai trò cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Đặc biệt, thầy đã có nhiều sáng kiến kinh nghiệm được Hội đồng khoa học Ngành xếp loại xuất sắc, được đăng vào kỷ yếu của Ngành và được báo cáo điển hình tại Hội nghị giáo dục toàn quốc.
Thấm nhuần lời dạy của Bác: "Cán bộ, Đảng viên không chỉ giỏi về chính trị mà còn phải giỏi về chuyên môn. Làm nghề gì cũng phải học và làm nghề gì thì phải thạo nghề ấy. Không có chuyên môn sẽ dẫn tới bệnh nói suông, lãnh đạo chung chung". Vì vậy, thầy Phan Văn Hường luôn quan tâm đến việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ. Ý thức tự học, tự rèn của cán bộ, đảng viên đã trở thành phong trào quần chúng. Hiện nay, đội ngũ của nhà trường có 57 cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên hầu hết có trình độ Đại học, trong đó 4 đồng chí có trình độ thạc sỹ, 6 đồng chí đang theo học Thạc sỹ các ngành.
Để làm tốt công tác chuyên môn, nâng cao chất lượng dạy và học, ngoài việc quan tâm đến công tác xây dựng khối đoàn kết, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, chăm lo đến đời sống tinh thần và vật chất, nhà trường còn quan tâm đến những cán bộ, giáo viên, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, gặp những rủi ro hoạn nạn. Các hoạt động từ thiện đã được toàn trường hưởng ứng tích cực và thu được kết quả tốt đẹp.
Mỗi cán bộ, giáo viên thường xuyên rèn luyện phẩm chất, trau dồi đạo đức nghề nghiệp, tiếp tục thực hiện tốt cuộc vận động "Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục", và cuộc vận động "Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”. Năm học 2008 - 2009, trường được chuyển về địa điểm mới tại phường Hà Huy Tập trên một khu đất rộng với diện tích trên 30.000m2. Nhà trường tiếp tục tham mưu cho UBND thành phố hoàn thành cơ bản các hạng mục. Đến nay đã có 4 dãy nhà học cao tầng và các phòng chức năng, nhà hiệu bộ được thiết kế hiện đại. Trang thiết bị phục vụ dạy và học được đầu tư đảm bảo quy chuẩn. Toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất đã đưa vào sử dụng có hiệu quả tốt vời tổng kinh phí xây dựng gần 50 tỷ đồng; cảnh quan, môi trường xanh- sạch - đẹp, đảm bảo cho 20 lớp, với tổng số 750 học sinh đủ điều kiện học tập tốt; các hoạt động vui chơi, giải trí đáp ứng theo yêu cầu của mô hình trường học thân thiện.
Hai năm qua, triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã tạo cho toàn trường phong trào thi đua sôi nổi, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Nhiều nhân tố mới xuất hiện, nhiều giáo viên giỏi, quản lý giỏi; nhiều cá nhân đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp Cơ sở và cấp tỉnh.
Những biểu hiện tiêu cực hoặc các tệ nạn xã hội không bị xâm nhập vào trường học. Môi trường giáo dục lành mạnh, trong sáng, tạo không khí thân thiện, an toàn.
Nhà trường tiếp tục giữ vững thành tích đơn vị dẫn đầu toàn tỉnh về kết quả học sinh giỏi tỉnh, kết quả tuyển sinh vào lớp 10 cấp THPT, và vào trường THPT Năng khiếu tỉnh. Năm học 2008 - 2009 trường THCS Lê Văn Thiêm được công nhận Trường đạt chuẩn Quốc gia, được UBND Tỉnh tặng danh hiệu Đơn vị lá cờ đầu của khối THCS trong toàn tỉnh. Đặc biệt, trong đợt sơ kết 2 năm thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” toàn thành phố, thầy Hường là một trong 6 đại biểu được báo cáo điển hình trước hội nghị.
Trong quá trình giảng dạy, công tác nhà giáo Phan Văn Hường đã có thành tích thật xuất sắc: 56 tuổi đời với 35 tuổi nghề, 31 tuổi đảng, 30 năm làm Hiệu trưởng; gần 30 năm liên tục, thầy đạt danh hiệu giáo viên giỏi, chiến sỹ thi đua các cấp; được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba (năm 2000); được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú (năm 2002), nhiều Huy chương, Kỷ niệm chương, nhiều Bằng khen của Bộ Giáo dục - Đào tạo, của UBND tỉnh.
Cuộc sống gia đình thầy thật hạnh phúc, các con chăm ngoan, học giỏi, đều đã tốt nghiệp Đại học và có nghề nghiệp ổn định. Thầy sống mẫu mực, làm việc hết mình với trách nhiệm cao, được đồng nghiệp quý trọng, vị nể; được học sinh, phụ huynh yêu mến.
Nhà giáo ưu tú Phan Văn Hường thật sự là con chim đầu đàn của trường Trung học cơ sở Lê Văn Thiêm - thành phố Hà Tĩnh; là gương sáng của một nhà giáo trong cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.



Nhà giáo ưu tú Phan Văn Hường trả lời phỏng vấn của PV Đài Truyền hình Việt Nam

Bài và ảnh: Dư Lý Trí - Phó chánh Văn phòng Sở GD&ĐT Hà Tĩnh

Thầy giáo Lê Đức Thọ - Tấm gương tự học và sáng tạo

(HBĐT) - Môn toán vốn khô khan, ít cuốn hút học sinh, thế nhưng quan niệm đó đã thay đổi đối với các em học sinh của trường PTTH Chuyên Hoàng Văn Thụ. Môn toán đã trở thành một trong những môn học được mong chờ, háo hức nhất trong các giờ lên lớp của các thầy cô giáo. Sự thay đổi này, người có công lớn nhất phải kể đến đó là thầy giáo Lê Đức Thọ, giáo viên tổ Toán - Tin.

Tính đến nay, thầy giáo Lê Đức Thọ vừa bước sang năm thứ 13 trong nghề giáo viên và cũng mới chuyển về công tác tại trường PTTH chuyên Hoàng Văn Thụ từ năm 2007. Trước đó, anh công tác tại Trường Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh. Thế nhưng, ở môi trường làm việc nào anh cũng phát huy hết khả năng, năng lực, tận tâm với nghề, với trường, với trò. Nhờ đó, anh đã có những đóng góp đáng kể cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. Đáng kể nhất đó là việc áp dụng, đưa CNTT vào giảng dạy. Anh cho biết: Trước đây, thường thì giáo viên chỉ soạn giảng giáo án theo phương pháp thủ công, quá trình giảng dạy chủ yếu là “dạy chay” những phép tính, con số, hình vẽ khô khan, ít tạo được hứng thú, thậm chí là nhàm chán đối với các em học sinh không thuộc khối lớp chuyên toán. Qua thực tế giảng dạy, mình nhận thấy, để thu hút và tạo hứng thú cho các em học sinh thì ngoài khả năng sư phạm truyền đạt kiến thức, còn cần phải có sự sáng tạo trong từng bài giảng.

Sự sáng tạo của thầy giáo Lê Đức Thọ được thể hiện ở chính niềm say mê với những phép tính, với những con số. Từng bước mày mò, tự học, tự sáng tạo, tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy. Trong các giờ lên lớp của thầy Thọ, đã luôn tạo sự hứng khởi và cuốn hút đối với học sinh với việc học trực tuyến CNTT . Những tiết học vốn khô khan đã trở nên sôi nổi khi những con số, hình vẽ được soạn giảng trên máy tính. Không chỉ vậy, phương pháp soạn giảng, khai thác thông tin phục vụ cho bài giảng trên máy tính cũng đã được Lê Đức Thọ thường xuyên trao đổi và giúp đỡ đồng nghiệp. Nhờ đó, đến nay 100% giáo viên ở tổ Toán - Tin của nhà trường đã áp dụng hiệu quả CNTT vào phục vụ công tác giảng dạy. Ngoài ra, phương pháp này cũng đã được giáo viên ở các tổ bộ môn khác ứng dụng hiệu quả trong giảng dạy. Qua đó, đã góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn toán nói riêng và chất lượng dạy và học của nhà trường nói chung.

Dù ở trong môi trường làm việc nào, thầy giáo Lê Đức Thọ vẫn luôn thể hiện được là một tấm gương về sự tự học và sáng tạo. Thầy giáo Lê Đức Thọ chính là tác giả của phần mềm ứng dụng "đảo đề thi" được sử dụng rộng rãi trong nhiều trường học trên địa bàn tỉnh và ở các tỉnh lân cận. Phần mềm này đã mang về cho Lê Đức Thọ giải sáng tạo trẻ năm 2006 do Hội Liên hiệp Thanh niên trao tặng. Anh cho biết: Trước khi viết thì trên thị trường cũng đã có rất nhiều phần mềm đảo đề thi, mỗi phần mềm có những tính năng tiện ích và hạn chế riêng. Tuy nhiên, các phần mềm này có giá rất cao. Trong điều kiện tài chính của nhà trường còn eo hẹp nên khó tiếp cận với các phần mềm này. Xác định đây là một phần mềm ứng dụng quan trọng, mình đã tập trung vào viết với mục đích sử dụng ở trường mình công tác.

Tuy vậy, so với các phần mềm Đảo đề thi khác thì phần mềm đảo đề thi do thầy giáo Lê Đức Thọ viết có tính năng ưu việt hơn hẳn như: đảo đề nhanh nhất, soạn thảo đề thi trên nền Word nên không bị lỗi phông chữ, định dạng văn bản... Qua thực tế sử dụng, phần mềm này được đánh giá rất cao, trong quá trình đưa vào ứng dụng từ năm 2006 đến nay chưa xảy ra một sai sót nào. Hiện, phần mềm này vẫn là lựa chọn số một của các trường trên địa bàn tỉnh và một số tỉnh lân cận. Ngoài ra, phần mềm này còn được đánh giá cao bởi lẽ, trước thầy giáo Lê Đức Thọ chưa có ai viết phần mềm này trên nền Word. Ngoài phần mềm đảo đề thi, thầy giáo Lê Đức Thọ còn là tác giả của phần mềm chấm thi trắc nghiệm; phần mềm xếp thời khóa biểu; phần mềm tính điểm... Hầu hết các phần mềm ứng dụng trên đều là kết quả của sự tìm tòi, tự học, mày mò sáng tạo của thầy giáo Lê Đức Thọ. Nói về những thành quả đạt được, thầy giáo Lê Đức Thọ khiêm tốn cho rằng: Đa số các phần mềm mình viết ra không phải là ý tưởng mới. Nhưng dựa trên cơ sở của các phần mềm đã có mình viết nên những phần mềm của riêng mình phù hợp với điều kiện của mình.

Với những gì đã làm được, thầy giáo Lê Đức Thọ đã trở thành một tấm gương sáng về tự học và sáng tạo của trường PTTH Chuyên Hoàng Văn Thụ nói riêng và trong đội ngũ giáo viên của tỉnh ta nói chung.

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2012

Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký của hôm nay

Tấm gương phi thường như huyền thoại của thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký có thể khiến nhiều người cảm thấy xấu hổ vì những gì thầy đã đạt được từ ngày bắt đầu đi học cho đến nay với đôi cánh tay bị liệt.
Năm 4 tuổi, cậu bé Nguyễn Ngọc Ký bị bại liệt cả 2 cánh tay sau cơn bạo bệnh. Tưởng rằng, cuộc đời của cậu bé Ký đã bị "đóng đinh" vào số phận tật nguyền. Vậy mà, bằng nghị lực phi thường, Nguyễn Ngọc Ký không những đã “vượt lên chính mình” mà còn đã đạt được những thành công khiến nhiều người phải mơ ước...

Nay, đã ở độ tuổi 67, “cậu bé” Nguyễn Ngọc Ký ngày xưa đã thêm hai “nhà” nữa là nhà văn và nhà tư vấn cho... tổng đài 1080!

Ở ông, đã hội tụ nhiều tinh hoa chắt lọc suốt hơn nửa thế kỷ cố gắng phấn đấu không mệt mỏi, ngay cả lúc đang phải nằm chạy thận hàng ngày…


Thầy Ký ăn bằng chân

Mới đi bệnh viện chạy thận về, thầy Ký nằm trên giường nói chuyện. Ái ngại vì sợ thầy mệt, nhưng kỳ lạ thay, giọng ông vẫn sang sảng: "Không sao, không sao! Người ta qua 3 tiếng chạy thận ai cũng mệt mỏi, còn tôi tận dụng, biến 3 tiếng đó thành 3 giờ hữu ích bằng cách thiền nhân định, dưỡng sinh, tác dụng rất phi thường.

Chính các bác sĩ chạy thận cũng rất ngạc nhiên. Thông thường bệnh nhân, chạy thận dồn máu phải mất 5 phút, còn tôi, chỉ 30 giây là xong!"

Thầy giáo đặc biệt Nguyễn Ngọc Ký đã có buổi tâm sự rất chân tình với chúng tôi.

Thưa thầy, thầy nói rõ hơn về phương pháp thầy đang áp dụng?

Năm 1972 tôi thăm lớp huấn luyện đặc công ở Phủ Lý được một ông thầy là đại tá đặc công hướng dẫn vận khí, thở sâu. Tác dụng tốt lắm. Sau đó, khoảng 1992 – 1993 vào Nam sống, tôi tập dưỡng sinh và học nhân điện, nói nôm na là thông qua tâm – ý – khí điều tiết cơ thể, thu hút tinh khí của đất trời.

Hàng ngày ta hướng ngoại nhiều, giờ tập trung hướng nội cho năng lượng đi vào.

Nói theo quan điểm duy vật là tập trung tinh thần. Kết quả kỳ diệu lắm, tôi ăn không nhiều, rất điều độ nhưng rất khỏe. So với người bình thường, tôi phải ngồi nhiều nhưng phần bụng không to, cơ thể cân đối…

Thầy tập luyện những phương pháp đã cho “kết quả rất kỳ diệu” như thầy nói, nhưng tại sao thầy vẫn phải chạy thận, tức không tránh được căn bệnh khá phổ biến hiện nay?

(Cười) Tôi nay đã U70 rồi còn gì. Từ nhỏ đã bị mắc bạo bệnh, liệt hai tay, cơ địa ốm yếu, đâu được như người bình thường hả em?

Vậy mà, ngoài những cố gắng, nỗ lực gấp bội so với người bình thường để làm được công việc của một người bình thường, tôi phải có sức khỏe nữa chứ.

Tôi lấy ví dụ cho em hiểu, hồi còn học cấp 1, vào giờ thủ công, để gấp con chim, các bạn chỉ gấp chừng 1 phút là xong, còn tôi phải gấp bằng chân cả trăm lần mới được!


… đọc báo cũng bằng chân

Tính ra, từ năm 4 tuổi đến nay, bắt đầu đi học lớp 1 đến học đại học, làm thầy giáo đứng lớp, tham gia nhiều cuộc gặp gỡ, nói chuyện, hội thảo ở mọi miền đất nước, tôi phải tốn sức khỏe nhiều gấp bội lần người bình thường.

Tính ra, tôi đã tham gia 1.330 buổi nói chuyện chứ có ít đâu. Khoảng 60 năm sống học tập và làm việc như vậy, ngoài ý chí, nghị lực thì phải kèm theo sức khỏe nữa mới làm được em ạ…

Nếu tôi không tập luyện thì làm sao có sức khỏe để được như hôm nay?

Con người có ai tránh được vòng sinh – bệnh – lão – tử đâu? Chúng ta cố gắng tập luyện để sống khỏe, sống tốt hơn, hữu ích hơn là quý nhất rồi….

Thưa “nhà tư vấn” Nguyễn Ngọc Ký, qua thời gian làm cho tổng đài 1080, thầy nhìn nhận thế nào về những thay đổi của xã hội ta hiện nay so với những năm tháng thầy còn trẻ tuổi?

Xã hội ta đang phát triển rất nhanh nên có nhiều trật tự, giá trị đã thay đổi rất nhiều. Tôi vôi cùng thấm thía điều này: Hạnh phúc bị đóng khung trong những giá trị xơ cứng sẽ trở thành bất hạnh!

Những người gọi đến tôi thường là học sinh, phụ huynh và các đối tượng khác, song chủ đề chính lại là tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc gia đình…

Có người chuẩn bị uống thuốc rầy tự tử, gọi đến tôi hỏi vài câu rồi uống thuốc. Tôi nghe xong bảo: “Cô còn gặp may lắm, tôi ước gì được như cô…”.

Câu chuyện của cô ấy thực ra rất nhiều người trong xã hội ta đang gặp phải, song vấn đề là họ không tìm ra lời giải nên bị bế tắc.

Hoặc một trường hợp khác rất rắc rối, bi kịch. Anh chồng là doanh nhân thành đạt, có cô vợ trẻ đẹp, ít hơn anh 20 tuổi. Do áp lực và thời gian với công việc, gia đình không được hạnh phúc, cô vợ ngoại tình với nhân viên trẻ của anh này.

Anh chồng có tiền và có quyền, cô vợ có nhan sắc, rơi vào hoàn cảnh này, xu hướng tan vỡ là cái chắc. Tôi nghe xong đã tư vấn cho cậu ấy thấy đâu là nguyên nhân dẫn tới bi kịch này, quan trọng hơn là cách tháo gỡ.

Chiều hôm ấy anh chồng nhắn tin cho vợ gặp ở một địa điểm yên tĩnh, lãng mạn để nói chuyện theo đúng “kịch bản” của tôi. Sau đó, vợ chồng họ đã vượt qua nguy cơ tan vỡ.

Họ có một buổi tối hàn gắn đầy hạnh phúc. Hôm sau anh chồng dẫn vợ đến gặp tôi cảm ơn: “Tiếc là không gặp thầy sớm hơn”!

Cô vợ ngoại tình rồi mà vẫn hàn gắn lại được hả thầy?

Đấy, đấy! Vì cứ nghĩ vậy nên dồn tình cảm đến chỗ tan vỡ! Phải nhìn vấn đề ngoại tình một cách nghiêm khắc và nhân văn hơn. Mặt nào đó ngoại tình là triệu chứng biểu hiện của trục trặc, khiếm khuyết nào đó trong tình cảm.

Nếu không phát hiện nguyên nhân của triệu chứng này thì ắt xảy ra mất hạnh phúc, thậm chí tan vỡ! Không phải ngoại tình là dở cả đâu. Vấn đề là phải biết xử lý như thế nào cho nhân văn.

Thật ra tình cảm, hạnh phúc ở đời là có duyên của nó. Người trong cuộc lắm khi chỉ thấy cây mà không thấy rừng, nên lúng túng khi gặp phải những phát sinh ngoài ý muốn.

Người đứng ngoài có thể khách quan hơn, nhìn thấy vấn đề rõ hơn để giải quyết một cách uyển chuyển…

Xã hội ta bây giờ “thoáng” hơn hồi trẻ của thầy nhiều phải không thầy?

Xu hướng bây giờ tình yêu gắn liền với tình dục. Nhưng cũng có xu hướng chỉ có tình dục đơn thuần thôi. Đây chỉ là bản năng, một phần của nhân tính.

Đó là thực tế khá phổ biến hiện nay…


Phút thư giãn, tưới hoa bằng miệng của thầy Ký

Là nhà tư vấn trên cái nền nhà giáo, nhà văn, thầy có đánh giá thế nào về xu hướng của giới trẻ hiện nay cũng như các vấn đề xã hội mà thầy thường gặp khi tư vấn?

Đúng là xã hội ta đang ngày càng thoáng hơn, hiện đại hơn. Tuy nhiên, cái gì cũng phải có chừng mực, điều kiện nhất định. Không thì sẽ rơi từ cực đoan này qua cực đoan khác.

Như một trường hợp có cậu học sinh có cha mẹ ở bên Mỹ bảo lãnh qua bên đấy nhưng cậu không chịu, nhất quyết ở lại Việt Nam. Bởi cậu này thích được bơi trong thế giới tự do một mình.

Cậu ta ở trong căn nhà sang trọng, có người giúp việc nấu cơm cho ăn, giặt quần áo cho mặc, dọn dẹp nhà cửa; có lái xe cho đi… Năm học lớp 11 cậu ta dẫn bạn gái về nhà ngủ chung…

Đây là dạng thả lỏng bản năng, nhu cầu, buông xuôi tất cả, mất hết ý chí. Những trường hợp như thế này, đáng tiếc thay, rơi vào số con em cán bộ có chức có quyền hoặc các gia đình giàu có rất nhiều.

Ngược lại, có những em học sinh cực kỳ tốt, chí thú lo học hành, rất siêu đẳng, mới học lớp 10, 11 đã sử dụng ngoại ngữ thành thạo, say mê học hỏi, giao lưu với bạn bè khắp thế giới qua Internet… Ngày đêm đầu tư cho kiến thức học tập, chuẩn bị cho tương lai. Số này cũng không ít đâu.

Đó là sự phân hóa trong xã hội hiện nay, nhất là ở giới trẻ, học sinh. Nhận diện được như vậy thì chẳng có gì ngạc nhiên hay băn khoăn cả. Trong xu thế chung của thời đại, ta cần hỗ trợ thêm để các bạn trẻ có định hướng đúng đắn…

Khó khăn, gian khổ rèn luyện nên người tốt hơn là đầy đủ, sung sướng? Từ kinh nghiệm của mình, thầy thấy thế nào về kết luận như vậy?

Gian khổ tôi luyện nên người là đúng rồi.

Trong lần giao lưu mới đây, có bạn sinh viên hỏi tôi: “Từ cậu bé liệt cả 2 cánh tay để trở thành nhà giáo, thầy đã làm thế nào mà đạt được kết quả như vậy? Có khi nào thầy mặc cảm không?”.

Tôi trả lời thế này: “Mặc cảm chứ, mặc cảm nhiều lắm. Tôi biết mình là ai, một người khuyết tật! Muốn bù đắp lại những gì thua thiệt, phải cố gắng hơn người bình thường, cố gắng một cách phi thường! Đó là lối đi của người khuyết tật như tôi, mặc cảm mà không tự ti, không lẩn trốn, không buông xuôi. Hoặc ngược lại, mặc cảm mà lạc quan tếu thì đó là sai lầm”.

Cuộc đời tôi là cuộc đời của người khuyết tật nên tôi luôn tìm cách bù lại bằng thời gian và nỗ lực cố gắng, sáng tạo cùng ước mơ và quyết tâm thực hiện.

Quãng thời gian đi học của tôi luôn phải chịu cảnh này, ban đầu bè bạn hay trêu chọc, tôi chỉ lặng lẽ với đôi tay khuyết tật nhưng lòng tôi luôn nung nấu quyết tâm phải bù lại bằng trí tuệ.

Kết quả là chỉ sau một thời gian, nhiều đứa bạn đã từng trêu chọc tôi lại quay qua hỏi bài tôi, chơi với tôi !
(Còn nữa)

(24h.com.vn)